Cây giống Đại học nông nghiệp 1 Hà NộiCây giống đại học nông nghiệp 1 hà nội

Giống hoa và cây cảnh

Hoa Lan giốngGiống hoaGiống cây cảnhHoa Tết

Giống cây trồng

Cây ăn quảCây bóng mátCây công nghiệpCây lấy gỗCây gia vịCây lấy củCây rau

Hạt giống

Hạt giống ngũ cốcHạt giống rau màuHạt giống hoaHạt giống khác

Chế phẩm Nông nghiệp

Phân bónThuốc trừ sâu bệnhChế phẩm sinh họcGiá thể trồng lan

Hỗ trợ trực tuyến

phone0986 266 563( Mạnh Hiếu )phone04 668 07 969( Kỹ thuật )emailcaygiongdhnn1@gmail.comHỗ trợ Online

Hệ thống tài khoản

   VCB  0021 0023 32 333
   VTB  711A 388 002 07
   DAB  01 03 05 83 07
Xem chi tiết

Bạn thân

Đệm ấm, Chăn đệm lông cừuchăn điện, chăn sưởi TeknosBat Trang CeramicGốm sứ Bát TràngVườn hoa lanRượu vangIntex VietnamTúi hút chân không Teknos

Thống kê

Số lần truy cập: 1170542
Số người online: 36

Phòng trừ sâu bệnh >> Cây ăn trái

Kỹ thuật trồng nhãn lồng Hưng Yên  in bài    gửi email  Lần xem: 1957

Ngày 12 tháng 8 năm 2005 Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cùng với UBND tỉnh Hưng Yên tiến hành hội chợ đặc sản nhãn lồng Hưng Yên nhằm bước đầu xây dựng thương hiệu và chọn ra một số giống nhãn lồng Hưng yên chuẩn để phục vụ cho ngành trồng cây ăn quả.

Nhóm chín sớm: Có thể sử dụng giống PHS-99-1-1 (Phố Hiến sớm). Năng suất trung bình đạt 175 kg/cây, cao hơn năng suất trung bình của nhóm chín sớm là 56,6%. Khối lượng trung bình quả đạt 80 quả/kg, cùi quả dày, giòn dễ tách, tỷ lệ thịt quả đạt 64,2%, ăn ngọt đậm và thơm, độ Brix đạt 19,1%. Thích hợp cho ăn tươi và chế biến đồ hộp. Thời gian cho thu hoạch từ 15 đến 22/7.

Nhóm chín chính vụ: Có thể sử dụng giống PHT-99-1-1 (Phố Hiến chính vụ) cho năng suất 95 kg/cây, cao hơn năng suất trung bình của nhóm chính vụ 39,2%. Quả to, trung bình 64 quả/kg, cùi dày, giòn, dễ tách, tỷ lệ thịt quả đạt 66,9%, độ Brix cao: 21,1%, ăn ngọt đậm, thơm, được nhiều người ưa chuộng, có thể ăn tươi và chế biến. Thời gian cho thu hoạch từ 22/7 đến 5/8.

Nhóm chín muộn: Nên sử dụng giống PHM- 99-1-1 (Phố Hiến muộn): Năng suất đạt 200kg/cây, cao hơn năng suất trung bình của nhóm là 193,2%. Khối lượng quả trung bình đạt 85 quả/kg, cùi dày, giòn, dễ tách, tỷ lệ thịt quả khá cao: 74,8%. Tuy ít thơm nhưng ăn ngọt đậm, độ Brix cao: 20,1%, thích hợp cho ăn tươi và chế biến đồ hộp. Thời gian cho thu hoạch kéo dài từ 15/8 đến 15/9.

Tất cả các nhóm giống nhãn nói trên được tuyển chọn từ các cá thể đầu dòng của nhãn lồng Phố Hiến (Hưng Yên), bồi dục và trồng thử nghiệm nhiều năm ở Viện nghiên cứu rau quả và nhiều vùng sinh thái khác nhau của vùng ĐBSH và các tỉnh phía Bắc đạt kết quả tốt và ổn định.

Quy hoạch vùng trồng: Các giống tuyển chọn ở cả ba nhóm chín sớm, chín chính vụ và chín muộn nên bố trí tập trung ở các tỉnh ĐBSH, vùng thấp của một số tỉnh Trung du miền núi (Sơn La, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Giang, Quảng Ninh...) và một phần nhỏ ở các tỉnh Bắc trung bộ (Thanh Hoá, Nghệ An).

Đặc điểm cây nhãn lồng Hưng Yên

Cây cao 5-10m, tán lá tròn xoè ra và rậm rạp, cành non có lông. Vỏ cây xù xì, có màu xám. Thân nhiều cành, lá um tùm xanh tươi quanh năm. Lá kép hình lông chim, mọc so le, gồm 5 đến 9 lá chét hẹp, nhẵn, mặt dưới màu thẫm hơn mặt trên, dài 7-20 cm, rộng 2,5-5 cm. Mùa xuân vào các tháng 2, 3, 4 ra hoa màu vàng nhạt, xếp thành chuỳ mọc ở ngọn cành và ở nách lá, màu vàng nhạt, đài 5-6 răng, tràng 5-6, nhị 6-10, bầu 2-3 ô. Quả tròn có vỏ ngoài màu vàng xám, hầu như nhẵn. Hạt đen nhánh, có áo hạt màu trắng bao bọc. Mùa quả là vào khoảng tháng 7-8. Cây nhẫn tương đối chịu rét hơn so với các cây cùng họ như vải, đồng thời cũng ít kén đất hơn.

Một số nhóm giống phổ biến: nhãn trơ cùi (cùi rất mỏng); nhãn nước (nhiều nước); nhãn lồng (nhãn gần chín phải dùng lồng bằng tre, nứa giữ cho chim, dơi khỏi ăn, cùi dày và mọng); nhãn tà, nhãn cám (D. longan Lour. subsp. longan var. obtusa (Pierre) Leenh.) có quả ăn được và dùng làm thuốc như Nhãn và vỏ cũng dùng chữa vết thương và cầm máu.

Nơi sống và thu hái

Gốc ở Ấn Độ, được trồng ở miền Nam Trung Quốc, Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam. Nhãn dễ trồng, mọc nhanh, thích hợp với đất thịt pha cát, nơi có lớp đất canh tác sâu. Có thể trồng bằng hạt, bằng cành chiết hay ghép cây. Độ 4-5 năm thì có quả, thời gian cho quả cũng rất lâu. Vào tháng 6-8, khi Nhãn chín, thu về, phơi nắng hay sấy cho cùi vàng đều thì lột cùi, phơi tiếp đến khô thì dùng. Hạt dùng phơi khô. Rễ và lá thu hái quanh năm. Tại Việt Nam, nhãn lồng Hưng Yên là đặc sản nổi tiếng.

Kỹ thuật nhân giống

Gieo hạt (chủ yếu để làm gốc ghép)

Hạt lấy về cần xử lý gieo ngay. Ngâm hạt nửa ngày, vớt ra , ngâm vào nước vôi trong, sau 2 - 3 giờ vớt ra, ủ vào đất cát ẩm 2 - 4 ngày. Khi ngâm hạt nhú ra đem gieo. Chiết cành: Đường kính gốc cành chiết 1,0 - 1,5 cm, dài 40 - 60cm. Sau khi hạ cành, nên tháo bỏ giấy PE, quấn thêm ra ngoài bầu chiết một lớp bùn rơm, để cho đến khi rễ nhú ra ngoài lớp bùn rơm, để cho đến khi rễ nhú ra ngoài lớp bùn rơm này mới đem trồng. - Ghép: Chọn giống nhãn tốt, quả to, cùi dày, hạt bé, ra quả đều lấy làm mắt ghép. Ghép vào tháng 3 đến tháng 4 hoặc tháng 9 - 10 (cần thời tiết khô ráo, mát mẻ). Chọn cành ghép 1 - 2 tuổi. Sau 2 - 3 năm trên đất tốt đã cho quả; 4 - 5 năm cho thu hoạch tốt. Đất: Đất phù sa (thích hợp nhất), đất cát ven biển, đất gò đồi trung du hay đất núi, pH = 4,5 - 6,0.

Khí hậu

Nhiệt độ thích hợp cho nhãn sinh trưởng và phát triển 21 - 27 độ C; mùa hoa nở cần nhiệt độ cao 25 - 31 độ C; Mùa Đông cần một thời gian nhiệt độ thấp để phân hoá mầm hoa.

Kỹ thuật trồng

Giống: Giống địa phương; Nhãn lồng, nhãn đường phèn, nhãn nước, nhãn Vĩnh Châu, nhãn tiêu. Giống nhập nội: Đại Ô Viên (Trung Quốc), nhãn Thạch Hiệp (Trung Quốc). Khoảng cách và mật độ trồng: 8 m x 8 m (160 cây/ha) hoặc 7m x 7 m; hoặc 4 m x 4 m hoặc 5 m x 5 m (khi cây giao tán thì tỉa bớt đi 1 hàng).

Thời vụ trồng

Miền Bắc: tháng 2 - 3 và tháng 8 - 9

Miền Nam: Đầu và cuối mùa mưa

Chăm sóc, thu hoạch

- Bón phân: Mỗi năm bón thúc cho cây 3 lần (kg/cây)

- Tưới nước: Là cây chịu hạn, thích ẩm, sợ đọng nước. Thang đầu tiên sau trồng tưới 1 - 2 ngày/lần; 2-3 ngày/1 lần ở tháng thứ 2. Sau đó chỉ quá khô hạn mới cần tưới cho cây.

- Tỉa cành tạo tán: Cắt tỉa tạo hình sao cho cây thấp để dễ chăm sóc. Tiến hành cắt tỉa sau khi thu hoạch quả muộn hơn - cắt vỏ những cành yếu, cành sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán.

- Phòng trừ sâu bệnh: Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật theo chỉ dẫn trên nhãn bao bì của từng loại thuốc.

+ Bọ xít: Phun Basudin 0,2% hoặc Diazinnon 0,04%; Dipterex 0,015 - 0,1%, Trebon 0,15-0,2% (Phun 2 đợt liền nhau cách nhau một tuần vào khoảng cuối tháng 4).

+ Sâu tiện vở nhãn: Dùng thuốc bơm vào lỗ đục hoặc dùng gai mây để bắt. Dùng nước vôi đặc quệt lên gốc cây.

+ Rệp sáp: Dung Dimecron, BI58 (0,15 - 0,28%).

+ Dơi, Rốc: Bó các chùm nhãn trong giấy cứng, bao cói, mo cau, túi PE để bảo vệ quả.

+ Nhện hái lá: Phun Nuvacron 0,2%.

+ Rầy hại hoa: Dipterex 0,2% và Trebon 10 ND 0,15 - 0,2%.

+ Dòi đục cành hoa: Phun bằng Monitor 0,2%, Trebon 0,15%.

+ Bệnh sương mai (mốc sương): Phun Bordeau 1% hoặc Ridomil

- MZ 0,2%, Anvil 0,2%, Score 0,1%, hoặc hỗn hợp Ridomil - MZ 0,2% + Anvil 0,2%. Phun 2 lần (lần 1: khi cây ra giò; lần 2: khi giò hoa nở 5 - 7 ngày).

Thu hoạch

Khi vỏ quả chuyển từ màu nâu hơi xanh màu nâu sáng, vỏ quả hơi sù sì hơi dày chuyển sang mọng và nhẵn, bóc quả xem thấy hạt có màu nâu đen thì có thể thu hoạch. Nên thu hoạch quả vào ngày tạnh ráo, vào buổi sáng và buổi chiều. Không cắt trụi hết cành lá của cây vì có thể ảnh hưởng đến khả năng nảy lộc vụ sau.